Xét nghiệm đánh giá chức năng thận Bình Dương

Xét nghiệm đánh giá chức năng thận Bình Dương

Xét nghiệm đánh giá chức năng thận Bình Dương,thận là cơ quan có vai trò loại bỏ chất thải và dịch thừa, tách ra khỏi máu. Xét nghiệm chức năng thận thông qua mẫu máu, nước tiểu hay chẩn đoán hình ảnh để đánh giá. Người bệnh có thể được chỉ định thực hiện nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá một cách toàn diện và chính xác nhất hoạt động của thận.

1. Xét nghiệm sinh hóa máu – xét nghiệm đánh giá chức năng thận

Các Xét nghiệm đánh giá chức năng thận Bình Dương sinh hóa máu bao gồm:

Xét nghiệm Ure máu

Ure là một dạng sản phẩm thoái hóa của protein, được lọc ở cầu thận trước khi thải ra ngoài cùng nước tiểu. Xét nghiệm chỉ số này có thể đánh giá chức năng thận, theo dõi các bệnh lý liên quan.

Nếu chức năng thận bình thường, chỉ số giá trị Ure trong máu nằm trong khoảng 2.5 – 7.5 mmol/l.

Nếu chỉ số Ure máu tăng bất thường, rất có thể đây là báo hiệu của bệnh sỏi thận, viêm cầu thận, sỏi niệu quản, viêm ống thận, tiêu chảy, mất nước do sốt cao, suy tim sung huyết, tiêu chảy,… Một số nguyên nhân khiến Ure trong máu giảm như: suy giảm chức năng gan, ăn ít protein, truyền nhiều dịch,…

Xét nghiệm Creatinin huyết thanh

Creatinin là sản phẩm thoái hóa của Creatin trong các cơ, đào thải ở thận. Chỉ số Creatinin trong máu giúp đánh giá chức năng thận. Ở nam giới, Creatinin bình thường là 0.6 – 1.2 mg/dl, còn ở nữ giới là 0.5 – 1.1 mg/dl.

Xét nghiệm Creatinin đánh giá chức năng thận

Xét nghiệm Creatinin đánh giá chức năng thận

Khi nồng độ Creatinin trong máu tăng bất thường, có thể chức năng thận bị rối loạn. Nguyên nhân do chức năng thận suy giảm, dẫn tới khả năng lọc Creatinin kém đi, nồng độ Creatinin từ đó cũng tăng cao hơn.

Đặc biệt với bệnh nhân suy thận, cấp độ suy thận càng nặng, chỉ số Creatinin càng cao.

  • Suy thận cấp độ 1: creatinin dưới 130 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 2: creatinin từ 130 – 299 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 3a: creatinin từ 300 – 499 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 3b: creatinin từ 500 – 899 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 4: creatinin trên 900 mmol/l.

Chỉ số creatinin máu thường phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, khối lượng cơ, hoạt động thể lực,… Khi bác sỹ nghi ngờ xét nghiệm creatinin không chính xác có thể chỉ định xét nghiệm cystatin C máu.

Giá trị bình thường của cystatin C máu từ 0.31 – 0.99 mg/L.

Điện giải đồ

Chức năng thận suy giảm gây mất cân bằng các chất điện giải, gồm:

  • Sodium (Natri): Natri trong máu bình thường ở khoảng 135 – 145 mmol/L. Với người suy thận, nồng độ natri máu giảm do mất qua thận, qua da, do thừa nước hoặc mất qua đường tiêu hóa.

  • Potassium (Kali): Kali trong máu bình thường ở khoảng 3,5 – 4,5 mmol/L. Bệnh nhân suy thận cũng bị tăng Kali trong máu, do thận đào thải kém đi.

  • Canxi máu: Ở người khỏe mạnh, canxi trong máu từ 2.2 – 2.6 mmol/L. Người bị suy thận kéo theo giảm canxi máu và tăng phosphate.

Chức năng thận rối loạn gây mất cân bằng điện giải

Chức năng thận rối loạn gây mất cân bằng điện giải

Xét nghiệm rối loạn cân bằng kiềm toan

Xét nghiệm chức năng thận này thường được chỉ định chẩn đoán cho người nghi ngờ bị mắc bệnh. Ở người bình thường, pH máu ở mức 7,37 – 7,43 là tối ưu nhất cho hoạt động của các men tế bào, protein co cơ và yếu tố đông máu.

Ở người suy giảm chức năng thận, acid chuyển hóa bị giảm thải nên tăng nồng độ acid trong máu và các cơ quan.

Xét nghiệm acid uric trong máu

Xét nghiệm này ngoài để đánh giá chức năng thận còn dùng để chẩn đoán bệnh Gout. Nồng độ acid uric trong máu ở người bình thường là 180 – 420 mmol/l với nam giới và 150 – 360 mmol/l với nữ giới. Người mắc bệnh thận, gout hay vẩy nến thì nồng độ này trong máu tăng.

Xét nghiệm sinh hóa máu khác

Protein toàn phần huyết tương: Chỉ số này đánh giá chức năng lọc của cầu thận. Mức bình thường là 60 – 80 g/L, người mắc bệnh thận thường bị giảm protein toàn phần.

Albumin huyết thanh: Chỉ số này ở người bình thường là 35 – 50g/L, chiến từ 50 – 60% protein toàn phần. Người mắc bệnh cầu thận cấp thì Albumin huyết thanh giảm mạnh.

Tổng phân tích tế bào máu: Người suy thận mạn tính có thể kèm theo giảm lượng hồng cầu.

Protein toàn phần huyết tương đánh giá chức năng lọc của cầu thận

Protein toàn phần huyết tương đánh giá chức năng lọc của cầu thận

2. Xét nghiệm nước tiểu đánh giá chức năng thận

Xét nghiệm chức năng thận qua nước tiểu gồm:

Tổng phân tích nước tiểu

Nước tiểu bình thường có tỉ trọng là 1,01 – 1,020. Nhưng ở người chức năng thận suy giảm, nước tiểu bị giảm độ cô đặc, vì thế tỉ trọng cũng thấp hơn. Xét nghiệm này thường được chỉ định để chẩn đoán cho người nghi ngờ mắc bệnh thận.

Ngoài ra, Protein trong nước tiểu giúp bác sỹ nhận định và chỉ định bệnh nhân thực hiện xét nghiệm đạm niệu 24 giờ.

Xét nghiệm định lượng đạm niệu 24h

Ở người khỏe mạnh, protein trong nước tiểu là 0 – 0.2g/l/24h. Ở người bị thương tổn cầu thận, suy thận, viêm cầu thận cấp, bệnh lý liên quan như tăng huyết áp, đái tháo đường, lupus ban đỏ,… thì đạm niệu thường tăng 0.3g/l/24h.

Chẩn đoán hình ảnh

Chẩn đoán hình ảnh thường được chỉ định kết hợp với xét nghiệm sinh hóa và nước tiểu để đánh giá toàn diện chức năng thận và hoạt động của cơ quan này.

Siêu âm bụng

Siêu âm giúp phát hiện tình trạng ứ nước ở thận do tắc nghẽn niệu quản. Người bị ứ nước thận 2 bên có thể dẫn tới suy thận cấp hoặc mạn tính, hoặc do thận đa nang bẩm sinh, di truyền. Siêu âm thấy thận nhỏ, có nhiều nang, mất phân biệt vỏ tủy, thay đổi cấu trúc,… gợi ý nguy cơ thận mạn tính. Siêu âm hiện đại có thể phát hiện khối u hoặc sỏi thận.

Chụp CT Scan cho thấy hình ảnh toàn bộ đường tiết niệu

Chụp CT Scan cho thấy hình ảnh toàn bộ đường tiết niệu

Chụp CT Scan

Đây là phương pháp thăm dò hình ảnh bằng tia X, giúp phản ánh rõ hình ảnh của toàn bộ hệ tiết niệu. Phương pháp đánh giá này thường chỉ định với trường hợp nghi bị suy thận do tắc nghẽn đường tiết niệu. Nếu muốn dựng hình toàn bộ đường tiết niệu¸ bác sỹ sẽ chụp CT scan có tiêm thuốc cản quang với máy chụp đa lát cắt.

Xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ

Xét nghiệm này là phương pháp duy nhất có thể đánh giá chức năng thận từng bên. Bác sỹ sẽ có thể nhìn rõ chức năng lọc của từng thận, khả năng tham gia từng thận, phần trăm tưới máu,… Phương pháp này giúp đánh giá mức độ tắc nghẽn niệu quản 2 bên rất tốt.

 Xét nghiệm chức năng thận gồm rất nhiều các xét nghiệm nhỏ liên quan, được chỉ định độc lập hoặc kết hợp để chẩn đoán với người nghi ngờ mắc bệnh thận, hoặc sàng lọc, kiểm tra sức khỏe thận định kỳ. Tùy theo biểu hiện, tình trạng sức khỏe mà bác sỹ sẽ chỉ định xét nghiệm đánh giá chức năng thận phù hợp và có những chỉ định chuyên sâu khác.

Liên hệ với Xét Nghiệm Bình Dương qua tổng đài 0766.516161 để được tư vấn chi tiết từ các bác sỹ nhiều năm kinh nghiệm.

Xét nghiệm chức năng thận Bình Dương

Xét nghiệm chức năng thận Bình Dương

Xét nghiệm chức năng thận Bình Dương,thận là cơ quan có vai trò loại bỏ chất thải và dịch thừa, tách ra khỏi máu. Xét nghiệm chức năng thận thông qua mẫu máu, nước tiểu hay chẩn đoán hình ảnh để đánh giá. Người bệnh có thể được chỉ định thực hiện nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá một cách toàn diện và chính xác nhất hoạt động của thận.

1. Xét nghiệm sinh hóa máu – xét nghiệm đánh giá chức năng thận

Các Xét nghiệm chức năng thận Bình Dương sinh hóa máu bao gồm:

Xét nghiệm Ure máu

Ure là một dạng sản phẩm thoái hóa của protein, được lọc ở cầu thận trước khi thải ra ngoài cùng nước tiểu. Xét nghiệm chỉ số này có thể đánh giá chức năng thận, theo dõi các bệnh lý liên quan.

Nếu chức năng thận bình thường, chỉ số giá trị Ure trong máu nằm trong khoảng 2.5 – 7.5 mmol/l.

Nếu chỉ số Ure máu tăng bất thường, rất có thể đây là báo hiệu của bệnh sỏi thận, viêm cầu thận, sỏi niệu quản, viêm ống thận, tiêu chảy, mất nước do sốt cao, suy tim sung huyết, tiêu chảy,… Một số nguyên nhân khiến Ure trong máu giảm như: suy giảm chức năng gan, ăn ít protein, truyền nhiều dịch,…

Xét nghiệm Creatinin huyết thanh

Creatinin là sản phẩm thoái hóa của Creatin trong các cơ, đào thải ở thận. Chỉ số Creatinin trong máu giúp đánh giá chức năng thận. Ở nam giới, Creatinin bình thường là 0.6 – 1.2 mg/dl, còn ở nữ giới là 0.5 – 1.1 mg/dl.

Xét nghiệm Creatinin đánh giá chức năng thận

Xét nghiệm Creatinin đánh giá chức năng thận

Khi nồng độ Creatinin trong máu tăng bất thường, có thể chức năng thận bị rối loạn. Nguyên nhân do chức năng thận suy giảm, dẫn tới khả năng lọc Creatinin kém đi, nồng độ Creatinin từ đó cũng tăng cao hơn.

Đặc biệt với bệnh nhân suy thận, cấp độ suy thận càng nặng, chỉ số Creatinin càng cao.

  • Suy thận cấp độ 1: creatinin dưới 130 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 2: creatinin từ 130 – 299 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 3a: creatinin từ 300 – 499 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 3b: creatinin từ 500 – 899 mmol/l

  • Suy thận cấp độ 4: creatinin trên 900 mmol/l.

Chỉ số creatinin máu thường phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, khối lượng cơ, hoạt động thể lực,… Khi bác sỹ nghi ngờ xét nghiệm creatinin không chính xác có thể chỉ định xét nghiệm cystatin C máu.

Giá trị bình thường của cystatin C máu từ 0.31 – 0.99 mg/L.

Điện giải đồ

Chức năng thận suy giảm gây mất cân bằng các chất điện giải, gồm:

  • Sodium (Natri): Natri trong máu bình thường ở khoảng 135 – 145 mmol/L. Với người suy thận, nồng độ natri máu giảm do mất qua thận, qua da, do thừa nước hoặc mất qua đường tiêu hóa.

  • Potassium (Kali): Kali trong máu bình thường ở khoảng 3,5 – 4,5 mmol/L. Bệnh nhân suy thận cũng bị tăng Kali trong máu, do thận đào thải kém đi.

  • Canxi máu: Ở người khỏe mạnh, canxi trong máu từ 2.2 – 2.6 mmol/L. Người bị suy thận kéo theo giảm canxi máu và tăng phosphate.

Chức năng thận rối loạn gây mất cân bằng điện giải

Chức năng thận rối loạn gây mất cân bằng điện giải

Xét nghiệm rối loạn cân bằng kiềm toan

Xét nghiệm chức năng thận này thường được chỉ định chẩn đoán cho người nghi ngờ bị mắc bệnh. Ở người bình thường, pH máu ở mức 7,37 – 7,43 là tối ưu nhất cho hoạt động của các men tế bào, protein co cơ và yếu tố đông máu.

Ở người suy giảm chức năng thận, acid chuyển hóa bị giảm thải nên tăng nồng độ acid trong máu và các cơ quan.

Xét nghiệm acid uric trong máu

Xét nghiệm này ngoài để đánh giá chức năng thận còn dùng để chẩn đoán bệnh Gout. Nồng độ acid uric trong máu ở người bình thường là 180 – 420 mmol/l với nam giới và 150 – 360 mmol/l với nữ giới. Người mắc bệnh thận, gout hay vẩy nến thì nồng độ này trong máu tăng.

Xét nghiệm sinh hóa máu khác

Protein toàn phần huyết tương: Chỉ số này đánh giá chức năng lọc của cầu thận. Mức bình thường là 60 – 80 g/L, người mắc bệnh thận thường bị giảm protein toàn phần.

Albumin huyết thanh: Chỉ số này ở người bình thường là 35 – 50g/L, chiến từ 50 – 60% protein toàn phần. Người mắc bệnh cầu thận cấp thì Albumin huyết thanh giảm mạnh.

Tổng phân tích tế bào máu: Người suy thận mạn tính có thể kèm theo giảm lượng hồng cầu.

Protein toàn phần huyết tương đánh giá chức năng lọc của cầu thận

Protein toàn phần huyết tương đánh giá chức năng lọc của cầu thận

2. Xét nghiệm nước tiểu đánh giá chức năng thận

Xét nghiệm chức năng thận qua nước tiểu gồm:

Tổng phân tích nước tiểu

Nước tiểu bình thường có tỉ trọng là 1,01 – 1,020. Nhưng ở người chức năng thận suy giảm, nước tiểu bị giảm độ cô đặc, vì thế tỉ trọng cũng thấp hơn. Xét nghiệm này thường được chỉ định để chẩn đoán cho người nghi ngờ mắc bệnh thận.

Ngoài ra, Protein trong nước tiểu giúp bác sỹ nhận định và chỉ định bệnh nhân thực hiện xét nghiệm đạm niệu 24 giờ.

Xét nghiệm định lượng đạm niệu 24h

Ở người khỏe mạnh, protein trong nước tiểu là 0 – 0.2g/l/24h. Ở người bị thương tổn cầu thận, suy thận, viêm cầu thận cấp, bệnh lý liên quan như tăng huyết áp, đái tháo đường, lupus ban đỏ,… thì đạm niệu thường tăng 0.3g/l/24h.

Chẩn đoán hình ảnh

Chẩn đoán hình ảnh thường được chỉ định kết hợp với xét nghiệm sinh hóa và nước tiểu để đánh giá toàn diện chức năng thận và hoạt động của cơ quan này.

Siêu âm bụng

Siêu âm giúp phát hiện tình trạng ứ nước ở thận do tắc nghẽn niệu quản. Người bị ứ nước thận 2 bên có thể dẫn tới suy thận cấp hoặc mạn tính, hoặc do thận đa nang bẩm sinh, di truyền. Siêu âm thấy thận nhỏ, có nhiều nang, mất phân biệt vỏ tủy, thay đổi cấu trúc,… gợi ý nguy cơ thận mạn tính. Siêu âm hiện đại có thể phát hiện khối u hoặc sỏi thận.

Chụp CT Scan cho thấy hình ảnh toàn bộ đường tiết niệu

Chụp CT Scan cho thấy hình ảnh toàn bộ đường tiết niệu

Chụp CT Scan

Đây là phương pháp thăm dò hình ảnh bằng tia X, giúp phản ánh rõ hình ảnh của toàn bộ hệ tiết niệu. Phương pháp đánh giá này thường chỉ định với trường hợp nghi bị suy thận do tắc nghẽn đường tiết niệu. Nếu muốn dựng hình toàn bộ đường tiết niệu¸ bác sỹ sẽ chụp CT scan có tiêm thuốc cản quang với máy chụp đa lát cắt.

Xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ

Xét nghiệm này là phương pháp duy nhất có thể đánh giá chức năng thận từng bên. Bác sỹ sẽ có thể nhìn rõ chức năng lọc của từng thận, khả năng tham gia từng thận, phần trăm tưới máu,… Phương pháp này giúp đánh giá mức độ tắc nghẽn niệu quản 2 bên rất tốt.

 Xét nghiệm chức năng thận gồm rất nhiều các xét nghiệm nhỏ liên quan, được chỉ định độc lập hoặc kết hợp để chẩn đoán với người nghi ngờ mắc bệnh thận, hoặc sàng lọc, kiểm tra sức khỏe thận định kỳ. Tùy theo biểu hiện, tình trạng sức khỏe mà bác sỹ sẽ chỉ định xét nghiệm đánh giá chức năng thận phù hợp và có những chỉ định chuyên sâu khác.

Liên hệ với Xét Nghiệm Bình Dương qua tổng đài 0766.516161 để được tư vấn chi tiết từ các bác sỹ nhiều năm kinh nghiệm.

Nhu cầu xét nghiệm gan Bình Dương

Nhu cầu xét nghiệm gan Bình Dương

Nhu cầu xét nghiệm gan Bình Dương là tên gọi chung của một số xét nghiệm cụ thể được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động chức năng của gan. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là yếu tố không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh lý của gan.

1. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp và ý nghĩa của chúng

Hiện có khá nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá chức năng gan Bình Dương, và cùng một xét nghiệm có thể mang các tên gọi khác nhau. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp bao gồm:

  • Xét nghiệm nồng độ alanine transaminase – ALT (tên khác là serum glutamic pyruvic transaminase – SGPT): Alanine transaminase là một loại enzyme tham gia vào quá trình bẻ gãy các chuỗi protein, và alanine transaminase được tìm thấy chủ yếu ở gan. Nồng độ cao alanine transaminase trong máu gợi ý rằng có sự tổn thương gan xảy ra.
  • Xét nghiệm nồng độ aspartate transaminase – AST (tên khác là serum glutamic oxaloacetic transaminase – SGOT): Aspartate transaminase là một loại enzyme khác được tìm thấy ở gan, và nếu nồng độ aspartate transaminase trong máu cao cũng là dấu hiệu của bệnh lí hoặc gợi ý thương tổn tại gan.

Xét nghiệm SGOT

Xét nghiệm SGOT

  • Xét nghiệm nồng độ alkaline phosphatase – ALP (xét nghiệm nồng độ phosphatase kiềm): Alkaline phosphatase là một loại enzyme hiện diện tại gan, ống mật và xương, do đó nồng độ alkaline phosphatase sẽ tăng khi tổn thương gan hoặc có bệnh lý về gan, khi tắc mật hoặc khi có bệnh lý về xương.
  • Xét nghiệm nồng độ albumin và protein toàn phần: Gan sản xuất ra hai loại protein chính là albumin và globulin (albumin chỉ được sản xuất từ gan, globulin còn được sản xuất từ cơ quan khác ngoài gan). Nồng độ của những protein vừa nêu trong máu thấp đồng nghĩa gan đã gặp vấn đề.
  • Xét nghiệm nồng độ bilirubin: Bilirubin là thành phần được giải phóng ra khi các tế bào hồng cầu bị phá hủy, và bình thường quá trình xử lý bilirubin sẽ được gan thực hiện. Nếu gan bị tổn thương, quá trình xử lý bilirubin không đảm bảo và gây ra hiện tượng hoàng đản (vàng da).
  • Xét nghiệm nồng độ gamma glutamyl transferase – GGT: Nồng độ gamma glutamyl transferase cao trong máu có thể là biểu hiện của tổn thương gan hoặc ống mật.
  • Xét nghiệm nồng độ lactate dehydrogenase – LD: Nồng độ lactate dehydrogenase (là một loại enzyme) tăng cao khi có tổn thương gan xảy ra, nhưng các tình trạng bệnh lí khác cũng có thể gây tăng nồng độ enzyme này.
  • Xét nghiệm thời gian prothrombin – PT: Đây là một xét nghiệm nhằm xác định thời gian đông máu. Nếu thời gian prothrombin kéo dài thì đây là một dấu hiệu của tổn thương gan, bởi gan là cơ quan sản xuất các yếu tố đông máu. Việc sử dụng các thuốc chống đông, chẳng hạn như warfarin (Coumadin) có thể làm tăng thời gian prothrombin.

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin - PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

2. Khi nào cần thực hiện các xét nghiệm chức năng gan?

 

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần được thực hiện để kiểm tra tình trạng của gan, phát hiện bệnh lý cũng như để xác định mức độ bệnh, theo dõi kết quả điều trị. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh lý về gan thường gặp bao gồm:

  • Nước tiểu sẫm màu.
  • Phân nhạt màu.
  • Cảm giác chán ăn.
  • Bụng chướng.
  • Thay đổi tính tình.
  • Cảm giác ốm yếu, mệt mỏi.
  • Hoàng đản (vàng da, vàng củng mạc mắt).

Tuy nhiên thông thường các bệnh lý về gan ít khi biểu hiện các triệu chứng. Ngoài ra, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng được thực hiện đối với những người có nguy cơ cao mắc bệnh lý về gan, chẳng hạn như:

  • Người uống nhiều rượu, người lạm dụng rượu.
  • Có tiền sử gia đình mắc bệnh lý về gan.
  • Thừa cân béo phì, đặc biệt là khi có tình trạng đái tháo đường hoặc tăng huyết áp đi kèm.
  • Đang điều trị bằng các thuốc có thể ảnh hưởng tới gan.

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

3. Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần chuẩn bị như thế nào?

Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan, người được xét nghiệm cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ các loại dược phẩm bản thân đang sử dụng, bao gồm cả các sản phẩm không cần bác sĩ kê đơn.

4. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan được thực hiện như thế nào?

Tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan được nêu ở trên đều là xét nghiệm máu, và chúng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ dựa trên tình huống lâm sàng cụ thể.

5. Kết quả xét nghiệm đánh giá chức năng gan mang ý nghĩa như thế nào?

Kết quả xét nghiệm sẽ là bình thường nếu các giá trị của kết quả đều nằm trong giới hạn bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm là bất thường, tùy theo khám lâm sàng và tình huống cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định thêm một hoặc một số xét nghiệm, kĩ thuật cận lâm sàng để làm rõ những bất thường đang diễn ra. Bác sĩ sẽ giải thích cặn kẽ để người bệnh hiểu về tình trạng của bản thân.

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan có vai trò quan trọng, giúp các bác sĩ có thể đánh giá sức khỏe của gan cho người bệnh, từ đó đưa ra kết quả điều trị tốt nhất.

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Hiện nay, Xét Nghiệm Bình Dương đang triển khai gói sàng lọc gan mật bao gồm đầy đủ tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, mang đến sự yên tâm và kết quả chính xác cho quý khách hàng. Khi có những dấu hiệu rối loạn gan hoặc có tiền sử bệnh lý gan mật hoặc ngay cả khi không hề có triệu chứng nào thì việc chủ động xét nghiệm chức năng gan là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mình.

Để đăng ký gói sàng lọc gan mật, quý khách hàng có thể liên hệ Xét Nghiệm Bình Dương hoặc liên hệ: 0766.516161 

Khi nào xét nghiệm gan Bình Dương

Khi nào xét nghiệm gan Bình Dương

Khi nào xét nghiệm gan Bình Dương là tên gọi chung của một số xét nghiệm cụ thể được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động chức năng của gan. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là yếu tố không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh lý của gan.

1. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp và ý nghĩa của chúng

Hiện có khá nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá chức năng gan Bình Dương, và cùng một xét nghiệm có thể mang các tên gọi khác nhau. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp bao gồm:

  • Xét nghiệm nồng độ alanine transaminase – ALT (tên khác là serum glutamic pyruvic transaminase – SGPT): Alanine transaminase là một loại enzyme tham gia vào quá trình bẻ gãy các chuỗi protein, và alanine transaminase được tìm thấy chủ yếu ở gan. Nồng độ cao alanine transaminase trong máu gợi ý rằng có sự tổn thương gan xảy ra.
  • Xét nghiệm nồng độ aspartate transaminase – AST (tên khác là serum glutamic oxaloacetic transaminase – SGOT): Aspartate transaminase là một loại enzyme khác được tìm thấy ở gan, và nếu nồng độ aspartate transaminase trong máu cao cũng là dấu hiệu của bệnh lí hoặc gợi ý thương tổn tại gan.

Xét nghiệm SGOT

Xét nghiệm SGOT

  • Xét nghiệm nồng độ alkaline phosphatase – ALP (xét nghiệm nồng độ phosphatase kiềm): Alkaline phosphatase là một loại enzyme hiện diện tại gan, ống mật và xương, do đó nồng độ alkaline phosphatase sẽ tăng khi tổn thương gan hoặc có bệnh lý về gan, khi tắc mật hoặc khi có bệnh lý về xương.
  • Xét nghiệm nồng độ albumin và protein toàn phần: Gan sản xuất ra hai loại protein chính là albumin và globulin (albumin chỉ được sản xuất từ gan, globulin còn được sản xuất từ cơ quan khác ngoài gan). Nồng độ của những protein vừa nêu trong máu thấp đồng nghĩa gan đã gặp vấn đề.
  • Xét nghiệm nồng độ bilirubin: Bilirubin là thành phần được giải phóng ra khi các tế bào hồng cầu bị phá hủy, và bình thường quá trình xử lý bilirubin sẽ được gan thực hiện. Nếu gan bị tổn thương, quá trình xử lý bilirubin không đảm bảo và gây ra hiện tượng hoàng đản (vàng da).
  • Xét nghiệm nồng độ gamma glutamyl transferase – GGT: Nồng độ gamma glutamyl transferase cao trong máu có thể là biểu hiện của tổn thương gan hoặc ống mật.
  • Xét nghiệm nồng độ lactate dehydrogenase – LD: Nồng độ lactate dehydrogenase (là một loại enzyme) tăng cao khi có tổn thương gan xảy ra, nhưng các tình trạng bệnh lí khác cũng có thể gây tăng nồng độ enzyme này.
  • Xét nghiệm thời gian prothrombin – PT: Đây là một xét nghiệm nhằm xác định thời gian đông máu. Nếu thời gian prothrombin kéo dài thì đây là một dấu hiệu của tổn thương gan, bởi gan là cơ quan sản xuất các yếu tố đông máu. Việc sử dụng các thuốc chống đông, chẳng hạn như warfarin (Coumadin) có thể làm tăng thời gian prothrombin.

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin - PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

2. Khi nào cần thực hiện các xét nghiệm chức năng gan?

 

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần được thực hiện để kiểm tra tình trạng của gan, phát hiện bệnh lý cũng như để xác định mức độ bệnh, theo dõi kết quả điều trị. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh lý về gan thường gặp bao gồm:

  • Nước tiểu sẫm màu.
  • Phân nhạt màu.
  • Cảm giác chán ăn.
  • Bụng chướng.
  • Thay đổi tính tình.
  • Cảm giác ốm yếu, mệt mỏi.
  • Hoàng đản (vàng da, vàng củng mạc mắt).

Tuy nhiên thông thường các bệnh lý về gan ít khi biểu hiện các triệu chứng. Ngoài ra, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng được thực hiện đối với những người có nguy cơ cao mắc bệnh lý về gan, chẳng hạn như:

  • Người uống nhiều rượu, người lạm dụng rượu.
  • Có tiền sử gia đình mắc bệnh lý về gan.
  • Thừa cân béo phì, đặc biệt là khi có tình trạng đái tháo đường hoặc tăng huyết áp đi kèm.
  • Đang điều trị bằng các thuốc có thể ảnh hưởng tới gan.

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

3. Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần chuẩn bị như thế nào?

Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan, người được xét nghiệm cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ các loại dược phẩm bản thân đang sử dụng, bao gồm cả các sản phẩm không cần bác sĩ kê đơn.

4. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan được thực hiện như thế nào?

Tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan được nêu ở trên đều là xét nghiệm máu, và chúng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ dựa trên tình huống lâm sàng cụ thể.

5. Kết quả xét nghiệm đánh giá chức năng gan mang ý nghĩa như thế nào?

Kết quả xét nghiệm sẽ là bình thường nếu các giá trị của kết quả đều nằm trong giới hạn bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm là bất thường, tùy theo khám lâm sàng và tình huống cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định thêm một hoặc một số xét nghiệm, kĩ thuật cận lâm sàng để làm rõ những bất thường đang diễn ra. Bác sĩ sẽ giải thích cặn kẽ để người bệnh hiểu về tình trạng của bản thân.

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan có vai trò quan trọng, giúp các bác sĩ có thể đánh giá sức khỏe của gan cho người bệnh, từ đó đưa ra kết quả điều trị tốt nhất.

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Hiện nay, Xét Nghiệm Bình Dương đang triển khai gói sàng lọc gan mật bao gồm đầy đủ tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, mang đến sự yên tâm và kết quả chính xác cho quý khách hàng. Khi có những dấu hiệu rối loạn gan hoặc có tiền sử bệnh lý gan mật hoặc ngay cả khi không hề có triệu chứng nào thì việc chủ động xét nghiệm chức năng gan là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mình.

Để đăng ký gói sàng lọc gan mật, quý khách hàng có thể liên hệ Xét Nghiệm Bình Dương hoặc liên hệ: 0766.516161 

Xét nghiệm gan Bình Dương

Xét nghiệm gan Bình Dương

Xét nghiệm gan Bình Dương là tên gọi chung của một số xét nghiệm cụ thể được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động chức năng của gan. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là yếu tố không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh lý của gan.

1. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp và ý nghĩa của chúng

Hiện có khá nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá chức năng gan Bình Dương, và cùng một xét nghiệm có thể mang các tên gọi khác nhau. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp bao gồm:

  • Xét nghiệm nồng độ alanine transaminase – ALT (tên khác là serum glutamic pyruvic transaminase – SGPT): Alanine transaminase là một loại enzyme tham gia vào quá trình bẻ gãy các chuỗi protein, và alanine transaminase được tìm thấy chủ yếu ở gan. Nồng độ cao alanine transaminase trong máu gợi ý rằng có sự tổn thương gan xảy ra.
  • Xét nghiệm nồng độ aspartate transaminase – AST (tên khác là serum glutamic oxaloacetic transaminase – SGOT): Aspartate transaminase là một loại enzyme khác được tìm thấy ở gan, và nếu nồng độ aspartate transaminase trong máu cao cũng là dấu hiệu của bệnh lí hoặc gợi ý thương tổn tại gan.

Xét nghiệm SGOT

Xét nghiệm SGOT

  • Xét nghiệm nồng độ alkaline phosphatase – ALP (xét nghiệm nồng độ phosphatase kiềm): Alkaline phosphatase là một loại enzyme hiện diện tại gan, ống mật và xương, do đó nồng độ alkaline phosphatase sẽ tăng khi tổn thương gan hoặc có bệnh lý về gan, khi tắc mật hoặc khi có bệnh lý về xương.
  • Xét nghiệm nồng độ albumin và protein toàn phần: Gan sản xuất ra hai loại protein chính là albumin và globulin (albumin chỉ được sản xuất từ gan, globulin còn được sản xuất từ cơ quan khác ngoài gan). Nồng độ của những protein vừa nêu trong máu thấp đồng nghĩa gan đã gặp vấn đề.
  • Xét nghiệm nồng độ bilirubin: Bilirubin là thành phần được giải phóng ra khi các tế bào hồng cầu bị phá hủy, và bình thường quá trình xử lý bilirubin sẽ được gan thực hiện. Nếu gan bị tổn thương, quá trình xử lý bilirubin không đảm bảo và gây ra hiện tượng hoàng đản (vàng da).
  • Xét nghiệm nồng độ gamma glutamyl transferase – GGT: Nồng độ gamma glutamyl transferase cao trong máu có thể là biểu hiện của tổn thương gan hoặc ống mật.
  • Xét nghiệm nồng độ lactate dehydrogenase – LD: Nồng độ lactate dehydrogenase (là một loại enzyme) tăng cao khi có tổn thương gan xảy ra, nhưng các tình trạng bệnh lí khác cũng có thể gây tăng nồng độ enzyme này.
  • Xét nghiệm thời gian prothrombin – PT: Đây là một xét nghiệm nhằm xác định thời gian đông máu. Nếu thời gian prothrombin kéo dài thì đây là một dấu hiệu của tổn thương gan, bởi gan là cơ quan sản xuất các yếu tố đông máu. Việc sử dụng các thuốc chống đông, chẳng hạn như warfarin (Coumadin) có thể làm tăng thời gian prothrombin.

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin - PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

2. Khi nào cần thực hiện các xét nghiệm chức năng gan?

 

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần được thực hiện để kiểm tra tình trạng của gan, phát hiện bệnh lý cũng như để xác định mức độ bệnh, theo dõi kết quả điều trị. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh lý về gan thường gặp bao gồm:

  • Nước tiểu sẫm màu.
  • Phân nhạt màu.
  • Cảm giác chán ăn.
  • Bụng chướng.
  • Thay đổi tính tình.
  • Cảm giác ốm yếu, mệt mỏi.
  • Hoàng đản (vàng da, vàng củng mạc mắt).

Tuy nhiên thông thường các bệnh lý về gan ít khi biểu hiện các triệu chứng. Ngoài ra, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng được thực hiện đối với những người có nguy cơ cao mắc bệnh lý về gan, chẳng hạn như:

  • Người uống nhiều rượu, người lạm dụng rượu.
  • Có tiền sử gia đình mắc bệnh lý về gan.
  • Thừa cân béo phì, đặc biệt là khi có tình trạng đái tháo đường hoặc tăng huyết áp đi kèm.
  • Đang điều trị bằng các thuốc có thể ảnh hưởng tới gan.

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

3. Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần chuẩn bị như thế nào?

Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan, người được xét nghiệm cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ các loại dược phẩm bản thân đang sử dụng, bao gồm cả các sản phẩm không cần bác sĩ kê đơn.

4. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan được thực hiện như thế nào?

Tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan được nêu ở trên đều là xét nghiệm máu, và chúng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ dựa trên tình huống lâm sàng cụ thể.

5. Kết quả xét nghiệm đánh giá chức năng gan mang ý nghĩa như thế nào?

Kết quả xét nghiệm sẽ là bình thường nếu các giá trị của kết quả đều nằm trong giới hạn bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm là bất thường, tùy theo khám lâm sàng và tình huống cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định thêm một hoặc một số xét nghiệm, kĩ thuật cận lâm sàng để làm rõ những bất thường đang diễn ra. Bác sĩ sẽ giải thích cặn kẽ để người bệnh hiểu về tình trạng của bản thân.

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan có vai trò quan trọng, giúp các bác sĩ có thể đánh giá sức khỏe của gan cho người bệnh, từ đó đưa ra kết quả điều trị tốt nhất.

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Hiện nay, Xét Nghiệm Bình Dương đang triển khai gói sàng lọc gan mật bao gồm đầy đủ tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, mang đến sự yên tâm và kết quả chính xác cho quý khách hàng. Khi có những dấu hiệu rối loạn gan hoặc có tiền sử bệnh lý gan mật hoặc ngay cả khi không hề có triệu chứng nào thì việc chủ động xét nghiệm chức năng gan là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mình.

Để đăng ký gói sàng lọc gan mật, quý khách hàng có thể liên hệ Xét Nghiệm Bình Dương hoặc liên hệ: 0766.516161 

Xét nghiệm chức năng gan Bình Dương

Xét nghiệm chức năng gan Bình Dương

Xét nghiệm đánh giá chức năng gan Bình Dương là tên gọi chung của một số xét nghiệm cụ thể được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động chức năng của gan. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là yếu tố không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán và theo dõi điều trị các bệnh lý của gan.

1. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp và ý nghĩa của chúng

Hiện có khá nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá chức năng gan Bình Dương, và cùng một xét nghiệm có thể mang các tên gọi khác nhau. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thường gặp bao gồm:

  • Xét nghiệm nồng độ alanine transaminase – ALT (tên khác là serum glutamic pyruvic transaminase – SGPT): Alanine transaminase là một loại enzyme tham gia vào quá trình bẻ gãy các chuỗi protein, và alanine transaminase được tìm thấy chủ yếu ở gan. Nồng độ cao alanine transaminase trong máu gợi ý rằng có sự tổn thương gan xảy ra.
  • Xét nghiệm nồng độ aspartate transaminase – AST (tên khác là serum glutamic oxaloacetic transaminase – SGOT): Aspartate transaminase là một loại enzyme khác được tìm thấy ở gan, và nếu nồng độ aspartate transaminase trong máu cao cũng là dấu hiệu của bệnh lí hoặc gợi ý thương tổn tại gan.

Xét nghiệm SGOT

Xét nghiệm SGOT

  • Xét nghiệm nồng độ alkaline phosphatase – ALP (xét nghiệm nồng độ phosphatase kiềm): Alkaline phosphatase là một loại enzyme hiện diện tại gan, ống mật và xương, do đó nồng độ alkaline phosphatase sẽ tăng khi tổn thương gan hoặc có bệnh lý về gan, khi tắc mật hoặc khi có bệnh lý về xương.
  • Xét nghiệm nồng độ albumin và protein toàn phần: Gan sản xuất ra hai loại protein chính là albumin và globulin (albumin chỉ được sản xuất từ gan, globulin còn được sản xuất từ cơ quan khác ngoài gan). Nồng độ của những protein vừa nêu trong máu thấp đồng nghĩa gan đã gặp vấn đề.
  • Xét nghiệm nồng độ bilirubin: Bilirubin là thành phần được giải phóng ra khi các tế bào hồng cầu bị phá hủy, và bình thường quá trình xử lý bilirubin sẽ được gan thực hiện. Nếu gan bị tổn thương, quá trình xử lý bilirubin không đảm bảo và gây ra hiện tượng hoàng đản (vàng da).
  • Xét nghiệm nồng độ gamma glutamyl transferase – GGT: Nồng độ gamma glutamyl transferase cao trong máu có thể là biểu hiện của tổn thương gan hoặc ống mật.
  • Xét nghiệm nồng độ lactate dehydrogenase – LD: Nồng độ lactate dehydrogenase (là một loại enzyme) tăng cao khi có tổn thương gan xảy ra, nhưng các tình trạng bệnh lí khác cũng có thể gây tăng nồng độ enzyme này.
  • Xét nghiệm thời gian prothrombin – PT: Đây là một xét nghiệm nhằm xác định thời gian đông máu. Nếu thời gian prothrombin kéo dài thì đây là một dấu hiệu của tổn thương gan, bởi gan là cơ quan sản xuất các yếu tố đông máu. Việc sử dụng các thuốc chống đông, chẳng hạn như warfarin (Coumadin) có thể làm tăng thời gian prothrombin.

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin - PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

Sơ đồ xét nghiệm thời gian prothrombin – PT

2. Khi nào cần thực hiện các xét nghiệm chức năng gan?

 

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần được thực hiện để kiểm tra tình trạng của gan, phát hiện bệnh lý cũng như để xác định mức độ bệnh, theo dõi kết quả điều trị. Các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh lý về gan thường gặp bao gồm:

  • Nước tiểu sẫm màu.
  • Phân nhạt màu.
  • Cảm giác chán ăn.
  • Bụng chướng.
  • Thay đổi tính tình.
  • Cảm giác ốm yếu, mệt mỏi.
  • Hoàng đản (vàng da, vàng củng mạc mắt).

Tuy nhiên thông thường các bệnh lý về gan ít khi biểu hiện các triệu chứng. Ngoài ra, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng được thực hiện đối với những người có nguy cơ cao mắc bệnh lý về gan, chẳng hạn như:

  • Người uống nhiều rượu, người lạm dụng rượu.
  • Có tiền sử gia đình mắc bệnh lý về gan.
  • Thừa cân béo phì, đặc biệt là khi có tình trạng đái tháo đường hoặc tăng huyết áp đi kèm.
  • Đang điều trị bằng các thuốc có thể ảnh hưởng tới gan.

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Người thừa cân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan

3. Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan cần chuẩn bị như thế nào?

Trước khi thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan, người được xét nghiệm cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ các loại dược phẩm bản thân đang sử dụng, bao gồm cả các sản phẩm không cần bác sĩ kê đơn.

4. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan được thực hiện như thế nào?

Tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan được nêu ở trên đều là xét nghiệm máu, và chúng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ dựa trên tình huống lâm sàng cụ thể.

5. Kết quả xét nghiệm đánh giá chức năng gan mang ý nghĩa như thế nào?

Kết quả xét nghiệm sẽ là bình thường nếu các giá trị của kết quả đều nằm trong giới hạn bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm là bất thường, tùy theo khám lâm sàng và tình huống cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định thêm một hoặc một số xét nghiệm, kĩ thuật cận lâm sàng để làm rõ những bất thường đang diễn ra. Bác sĩ sẽ giải thích cặn kẽ để người bệnh hiểu về tình trạng của bản thân.

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan có vai trò quan trọng, giúp các bác sĩ có thể đánh giá sức khỏe của gan cho người bệnh, từ đó đưa ra kết quả điều trị tốt nhất.

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Khám bệnh lý gan mật tại Xét Nghiệm Bình Dương cùng với các chuyên gia đầu ngành

Hiện nay, Xét Nghiệm Bình Dương đang triển khai gói sàng lọc gan mật bao gồm đầy đủ tất cả các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, mang đến sự yên tâm và kết quả chính xác cho quý khách hàng. Khi có những dấu hiệu rối loạn gan hoặc có tiền sử bệnh lý gan mật hoặc ngay cả khi không hề có triệu chứng nào thì việc chủ động xét nghiệm chức năng gan là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mình.

Để đăng ký gói sàng lọc gan mật, quý khách hàng có thể liên hệ Xét Nghiệm Bình Dương hoặc liên hệ: 0766.516161 

Lý do phải xét nghiệm Da Liễu

Lý do phải xét nghiệm Da Liễu

 

Lý do phải xét nghiệm Da Liễu, xét nghiệm chẩn đoán được chỉ ra khi nguyên nhân gây tổn thương da hoặc bệnh không rõ ràng từ tiền sử và khám lâm sàng đơn thuần. Bao gồm

  • Test áp
  • Sinh thiết
  • Cạo da

Khám dưới ánh sáng đèn Wood

Test tìm tế bào Tzanck
Nghiệm pháp ấn kính

Sinh thiết

Xét Nghiệm sinh thiết da

Xét Nghiệm sinh thiết da

Có một số loại sinh thiết da:
Dùng Punch
Cạo thương tổn
Cắt hình nêm
Thủ thuật sinh thiết bằng punch, trong đó một ống đục lỗ (đường kính thường là 4 mm) được ấn vào trung bì sâu hoặc mô dưới da để lấy mẫu với toàn bộ các phần của nó. Nhiều tổn thương nông khác có thể được sinh thiết bằng cách cạo bằng dao mổ hoặc dao cạo. Chảy máu được kiểm soát bằng dung dịch nhôm clorid hoặc điện cực; vết rạch lớn được khâu lại bằng chỉ khâu. Sinh thiết lớn hơn hoặc sâu hơn có thể được thực hiện bằng cách cắt một miếng da hình nêm bằng dao mổ. Các thương tổn sắc tố thường được cắt bỏ để đánh giá mô học về độ sâu; nếu quá nông, chẩn đoán xác định có thể rất khó. Chẩn đoán và điều trị thường có thể đạt được đồng thời với hầu hết các khối u nhỏ bằng cách cắt bỏ hoàn toàn khối u và một phần vùng da lành rìa thương tổn u

Cạo vảy da

Cạo vảy da giúp chẩn đoán nhiễm nấm và ghẻ. Đối với nhiễm nấm, vảy được lấy từ bờ của thương tổn và đặt vào một lam kính soi dưới kính hiển vi. Sau đó thêm một giọt 10-20% kali hydroxit vào. Sợi nấm sợi, bào tử nấm men, hoặc cả hai đều khẳng định chẩn đoán nhiễm nấm hoặc là bệnh nấm candida. Đối với ghẻ, vảy da được lấy từ các hang ghẻ nghi ngờ và được đặt trực tiếp dưới lớp phủ ngoài bằng dầu khoáng; có thể phát hiện kí sinh trùng, phân, trứng xác định chẩn đoán.

Ánh sáng đèn Wood

Ánh sáng đèn Wood (ánh sáng đen) có thể giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán và xác định mức độ tổn thương (ví dụ ranh giới của các thương tổn sắc tố trước khi cắt bỏ). Nó có thể giúp phân biệt giảm sắc tố với mất màu (với bạch biến dưới ánh sáng đèn Wood tổn thương sẽ bắt màu trắng ngà huỳnh quang). Erythrasma bắt màu huỳnh quang là màu cam-đỏ đặc trưng. Nhiễm nấm da đầu do Microsporum canis và M. audouinii phát huỳnh quang màu xanh sáng. (Lưu ý: Hầu hết nấm da đầu ở Hoa Kỳ là do loài Trichophyton không phát màu huỳnh quang.) Bằng chứng sớm nhất của nhiễm trùng da do Pseudomonas (ví dụ, trong bỏng) có thể là phát huỳnh quang màu xanh lá cây.

Test tế bào Tzanck

Xét nghiệm tế bào Tzanck có thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh do vi rút, chẳng hạn như herpes simplex và herpes zoster, và được thực hiện khi tồn tại các mụn nước còn nguyên vẹn. Xét nghiệm tế bào Tzanck không thể phân biệt giữa bệnh do nhiễm trùng herpes simplex và herpes zoster. Bọng nước nguyên vẹn là tổn thương thích hợp để xét nghiệm. Đỉnh bọng nước được loại bỏ bằng một lưỡi dao sắc và phần đáy của bọng nước còn lại được cạo bằng dao lưỡi dao số 15. Mẫu bệnh phẩm được chuyển sang một lam kính và nhuộm Wright hoặc nhuộm Giemsa. Tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm trùng herpes.

Phương pháp ấn kính

Phương pháp ấn kính được sử dụng để xác định xem tổn thương ban đỏ ở da là do máu trong các mạch máu nông (viêm hoặc tổn thương mạch) hoặc do xuất huyết. Một lam kính được ép trên tổn thương (diascopy) để xem nó có mất màu hay không. Các tổn thương xuất huyết không mất màu ; tổn thương viêm và mạch máu thì mất màu. Phương pháp ấn kính cũng có thể giúp chẩn đoán các tổn thương da trong bệnh sarcoidois, mà khi thực hiện sẽ có dấu hiệu thạch táo.

Thử nghiệmTzanck

Với thử nghiệm Tzanck, phần đế và hai bên của phỏng nước được cạo bằng dao, và vật liệu được nhuộm Wright hoặc Giemsa. Các tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm herpes simplex hoặc herpes zoster.

Thử nghiệmTzanck

Thử nghiệmTzanck

Mọi thông tin thắc mắc và xin liên hệ: 0766.51.6161

Thời điểm phải xét nghiệm Da Liễu

Thời điểm phải xét nghiệm Da Liễu

 

Thời điểm phải xét nghiệm Da Liễu, xét nghiệm chẩn đoán được chỉ ra khi nguyên nhân gây tổn thương da hoặc bệnh không rõ ràng từ tiền sử và khám lâm sàng đơn thuần. Bao gồm

  • Test áp
  • Sinh thiết
  • Cạo da

Khám dưới ánh sáng đèn Wood

Test tìm tế bào Tzanck
Nghiệm pháp ấn kính

Sinh thiết

Xét Nghiệm sinh thiết da

Xét Nghiệm sinh thiết da

Có một số loại sinh thiết da:
Dùng Punch
Cạo thương tổn
Cắt hình nêm
Thủ thuật sinh thiết bằng punch, trong đó một ống đục lỗ (đường kính thường là 4 mm) được ấn vào trung bì sâu hoặc mô dưới da để lấy mẫu với toàn bộ các phần của nó. Nhiều tổn thương nông khác có thể được sinh thiết bằng cách cạo bằng dao mổ hoặc dao cạo. Chảy máu được kiểm soát bằng dung dịch nhôm clorid hoặc điện cực; vết rạch lớn được khâu lại bằng chỉ khâu. Sinh thiết lớn hơn hoặc sâu hơn có thể được thực hiện bằng cách cắt một miếng da hình nêm bằng dao mổ. Các thương tổn sắc tố thường được cắt bỏ để đánh giá mô học về độ sâu; nếu quá nông, chẩn đoán xác định có thể rất khó. Chẩn đoán và điều trị thường có thể đạt được đồng thời với hầu hết các khối u nhỏ bằng cách cắt bỏ hoàn toàn khối u và một phần vùng da lành rìa thương tổn u

Cạo vảy da

Cạo vảy da giúp chẩn đoán nhiễm nấm và ghẻ. Đối với nhiễm nấm, vảy được lấy từ bờ của thương tổn và đặt vào một lam kính soi dưới kính hiển vi. Sau đó thêm một giọt 10-20% kali hydroxit vào. Sợi nấm sợi, bào tử nấm men, hoặc cả hai đều khẳng định chẩn đoán nhiễm nấm hoặc là bệnh nấm candida. Đối với ghẻ, vảy da được lấy từ các hang ghẻ nghi ngờ và được đặt trực tiếp dưới lớp phủ ngoài bằng dầu khoáng; có thể phát hiện kí sinh trùng, phân, trứng xác định chẩn đoán.

Ánh sáng đèn Wood

Ánh sáng đèn Wood (ánh sáng đen) có thể giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán và xác định mức độ tổn thương (ví dụ ranh giới của các thương tổn sắc tố trước khi cắt bỏ). Nó có thể giúp phân biệt giảm sắc tố với mất màu (với bạch biến dưới ánh sáng đèn Wood tổn thương sẽ bắt màu trắng ngà huỳnh quang). Erythrasma bắt màu huỳnh quang là màu cam-đỏ đặc trưng. Nhiễm nấm da đầu do Microsporum canis và M. audouinii phát huỳnh quang màu xanh sáng. (Lưu ý: Hầu hết nấm da đầu ở Hoa Kỳ là do loài Trichophyton không phát màu huỳnh quang.) Bằng chứng sớm nhất của nhiễm trùng da do Pseudomonas (ví dụ, trong bỏng) có thể là phát huỳnh quang màu xanh lá cây.

Test tế bào Tzanck

Xét nghiệm tế bào Tzanck có thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh do vi rút, chẳng hạn như herpes simplex và herpes zoster, và được thực hiện khi tồn tại các mụn nước còn nguyên vẹn. Xét nghiệm tế bào Tzanck không thể phân biệt giữa bệnh do nhiễm trùng herpes simplex và herpes zoster. Bọng nước nguyên vẹn là tổn thương thích hợp để xét nghiệm. Đỉnh bọng nước được loại bỏ bằng một lưỡi dao sắc và phần đáy của bọng nước còn lại được cạo bằng dao lưỡi dao số 15. Mẫu bệnh phẩm được chuyển sang một lam kính và nhuộm Wright hoặc nhuộm Giemsa. Tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm trùng herpes.

Phương pháp ấn kính

Phương pháp ấn kính được sử dụng để xác định xem tổn thương ban đỏ ở da là do máu trong các mạch máu nông (viêm hoặc tổn thương mạch) hoặc do xuất huyết. Một lam kính được ép trên tổn thương (diascopy) để xem nó có mất màu hay không. Các tổn thương xuất huyết không mất màu ; tổn thương viêm và mạch máu thì mất màu. Phương pháp ấn kính cũng có thể giúp chẩn đoán các tổn thương da trong bệnh sarcoidois, mà khi thực hiện sẽ có dấu hiệu thạch táo.

Thử nghiệmTzanck

Với thử nghiệm Tzanck, phần đế và hai bên của phỏng nước được cạo bằng dao, và vật liệu được nhuộm Wright hoặc Giemsa. Các tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm herpes simplex hoặc herpes zoster.

Thử nghiệmTzanck

Thử nghiệmTzanck

Mọi thông tin thắc mắc và xin liên hệ: 0766.51.6161

Khi nào phải xét nghiệm Da Liễu

Khi nào phải xét nghiệm Da Liễu

 

Khi nào phải xét nghiệm Da Liễu, xét nghiệm chẩn đoán được chỉ ra khi nguyên nhân gây tổn thương da hoặc bệnh không rõ ràng từ tiền sử và khám lâm sàng đơn thuần. Bao gồm

  • Test áp
  • Sinh thiết
  • Cạo da

Khám dưới ánh sáng đèn Wood

Test tìm tế bào Tzanck
Nghiệm pháp ấn kính

Sinh thiết

Xét Nghiệm sinh thiết da

Xét Nghiệm sinh thiết da

Có một số loại sinh thiết da:
Dùng Punch
Cạo thương tổn
Cắt hình nêm
Thủ thuật sinh thiết bằng punch, trong đó một ống đục lỗ (đường kính thường là 4 mm) được ấn vào trung bì sâu hoặc mô dưới da để lấy mẫu với toàn bộ các phần của nó. Nhiều tổn thương nông khác có thể được sinh thiết bằng cách cạo bằng dao mổ hoặc dao cạo. Chảy máu được kiểm soát bằng dung dịch nhôm clorid hoặc điện cực; vết rạch lớn được khâu lại bằng chỉ khâu. Sinh thiết lớn hơn hoặc sâu hơn có thể được thực hiện bằng cách cắt một miếng da hình nêm bằng dao mổ. Các thương tổn sắc tố thường được cắt bỏ để đánh giá mô học về độ sâu; nếu quá nông, chẩn đoán xác định có thể rất khó. Chẩn đoán và điều trị thường có thể đạt được đồng thời với hầu hết các khối u nhỏ bằng cách cắt bỏ hoàn toàn khối u và một phần vùng da lành rìa thương tổn u

Cạo vảy da

Cạo vảy da giúp chẩn đoán nhiễm nấm và ghẻ. Đối với nhiễm nấm, vảy được lấy từ bờ của thương tổn và đặt vào một lam kính soi dưới kính hiển vi. Sau đó thêm một giọt 10-20% kali hydroxit vào. Sợi nấm sợi, bào tử nấm men, hoặc cả hai đều khẳng định chẩn đoán nhiễm nấm hoặc là bệnh nấm candida. Đối với ghẻ, vảy da được lấy từ các hang ghẻ nghi ngờ và được đặt trực tiếp dưới lớp phủ ngoài bằng dầu khoáng; có thể phát hiện kí sinh trùng, phân, trứng xác định chẩn đoán.

Ánh sáng đèn Wood

Ánh sáng đèn Wood (ánh sáng đen) có thể giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán và xác định mức độ tổn thương (ví dụ ranh giới của các thương tổn sắc tố trước khi cắt bỏ). Nó có thể giúp phân biệt giảm sắc tố với mất màu (với bạch biến dưới ánh sáng đèn Wood tổn thương sẽ bắt màu trắng ngà huỳnh quang). Erythrasma bắt màu huỳnh quang là màu cam-đỏ đặc trưng. Nhiễm nấm da đầu do Microsporum canis và M. audouinii phát huỳnh quang màu xanh sáng. (Lưu ý: Hầu hết nấm da đầu ở Hoa Kỳ là do loài Trichophyton không phát màu huỳnh quang.) Bằng chứng sớm nhất của nhiễm trùng da do Pseudomonas (ví dụ, trong bỏng) có thể là phát huỳnh quang màu xanh lá cây.

Test tế bào Tzanck

Xét nghiệm tế bào Tzanck có thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh do vi rút, chẳng hạn như herpes simplex và herpes zoster, và được thực hiện khi tồn tại các mụn nước còn nguyên vẹn. Xét nghiệm tế bào Tzanck không thể phân biệt giữa bệnh do nhiễm trùng herpes simplex và herpes zoster. Bọng nước nguyên vẹn là tổn thương thích hợp để xét nghiệm. Đỉnh bọng nước được loại bỏ bằng một lưỡi dao sắc và phần đáy của bọng nước còn lại được cạo bằng dao lưỡi dao số 15. Mẫu bệnh phẩm được chuyển sang một lam kính và nhuộm Wright hoặc nhuộm Giemsa. Tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm trùng herpes.

Phương pháp ấn kính

Phương pháp ấn kính được sử dụng để xác định xem tổn thương ban đỏ ở da là do máu trong các mạch máu nông (viêm hoặc tổn thương mạch) hoặc do xuất huyết. Một lam kính được ép trên tổn thương (diascopy) để xem nó có mất màu hay không. Các tổn thương xuất huyết không mất màu ; tổn thương viêm và mạch máu thì mất màu. Phương pháp ấn kính cũng có thể giúp chẩn đoán các tổn thương da trong bệnh sarcoidois, mà khi thực hiện sẽ có dấu hiệu thạch táo.

Thử nghiệmTzanck

Với thử nghiệm Tzanck, phần đế và hai bên của phỏng nước được cạo bằng dao, và vật liệu được nhuộm Wright hoặc Giemsa. Các tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm herpes simplex hoặc herpes zoster.

Thử nghiệmTzanck

Thử nghiệmTzanck

Mọi thông tin thắc mắc và xin liên hệ: 0766.51.6161

Tại sao phải xét nghiệm Da Liễu 

Tại sao phải xét nghiệm Da Liễu

 

Tại sao phải xét nghiệm Da Liễu, xét nghiệm chẩn đoán được chỉ ra khi nguyên nhân gây tổn thương da hoặc bệnh không rõ ràng từ tiền sử và khám lâm sàng đơn thuần. Bao gồm

  • Test áp
  • Sinh thiết
  • Cạo da

Khám dưới ánh sáng đèn Wood

Test tìm tế bào Tzanck
Nghiệm pháp ấn kính

Sinh thiết

Xét Nghiệm sinh thiết da

Xét Nghiệm sinh thiết da

Có một số loại sinh thiết da:
Dùng Punch
Cạo thương tổn
Cắt hình nêm
Thủ thuật sinh thiết bằng punch, trong đó một ống đục lỗ (đường kính thường là 4 mm) được ấn vào trung bì sâu hoặc mô dưới da để lấy mẫu với toàn bộ các phần của nó. Nhiều tổn thương nông khác có thể được sinh thiết bằng cách cạo bằng dao mổ hoặc dao cạo. Chảy máu được kiểm soát bằng dung dịch nhôm clorid hoặc điện cực; vết rạch lớn được khâu lại bằng chỉ khâu. Sinh thiết lớn hơn hoặc sâu hơn có thể được thực hiện bằng cách cắt một miếng da hình nêm bằng dao mổ. Các thương tổn sắc tố thường được cắt bỏ để đánh giá mô học về độ sâu; nếu quá nông, chẩn đoán xác định có thể rất khó. Chẩn đoán và điều trị thường có thể đạt được đồng thời với hầu hết các khối u nhỏ bằng cách cắt bỏ hoàn toàn khối u và một phần vùng da lành rìa thương tổn u

Cạo vảy da

Cạo vảy da giúp chẩn đoán nhiễm nấm và ghẻ. Đối với nhiễm nấm, vảy được lấy từ bờ của thương tổn và đặt vào một lam kính soi dưới kính hiển vi. Sau đó thêm một giọt 10-20% kali hydroxit vào. Sợi nấm sợi, bào tử nấm men, hoặc cả hai đều khẳng định chẩn đoán nhiễm nấm hoặc là bệnh nấm candida. Đối với ghẻ, vảy da được lấy từ các hang ghẻ nghi ngờ và được đặt trực tiếp dưới lớp phủ ngoài bằng dầu khoáng; có thể phát hiện kí sinh trùng, phân, trứng xác định chẩn đoán.

Ánh sáng đèn Wood

Ánh sáng đèn Wood (ánh sáng đen) có thể giúp bác sĩ lâm sàng chẩn đoán và xác định mức độ tổn thương (ví dụ ranh giới của các thương tổn sắc tố trước khi cắt bỏ). Nó có thể giúp phân biệt giảm sắc tố với mất màu (với bạch biến dưới ánh sáng đèn Wood tổn thương sẽ bắt màu trắng ngà huỳnh quang). Erythrasma bắt màu huỳnh quang là màu cam-đỏ đặc trưng. Nhiễm nấm da đầu do Microsporum canis và M. audouinii phát huỳnh quang màu xanh sáng. (Lưu ý: Hầu hết nấm da đầu ở Hoa Kỳ là do loài Trichophyton không phát màu huỳnh quang.) Bằng chứng sớm nhất của nhiễm trùng da do Pseudomonas (ví dụ, trong bỏng) có thể là phát huỳnh quang màu xanh lá cây.

Test tế bào Tzanck

Xét nghiệm tế bào Tzanck có thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh do vi rút, chẳng hạn như herpes simplex và herpes zoster, và được thực hiện khi tồn tại các mụn nước còn nguyên vẹn. Xét nghiệm tế bào Tzanck không thể phân biệt giữa bệnh do nhiễm trùng herpes simplex và herpes zoster. Bọng nước nguyên vẹn là tổn thương thích hợp để xét nghiệm. Đỉnh bọng nước được loại bỏ bằng một lưỡi dao sắc và phần đáy của bọng nước còn lại được cạo bằng dao lưỡi dao số 15. Mẫu bệnh phẩm được chuyển sang một lam kính và nhuộm Wright hoặc nhuộm Giemsa. Tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm trùng herpes.

Phương pháp ấn kính

Phương pháp ấn kính được sử dụng để xác định xem tổn thương ban đỏ ở da là do máu trong các mạch máu nông (viêm hoặc tổn thương mạch) hoặc do xuất huyết. Một lam kính được ép trên tổn thương (diascopy) để xem nó có mất màu hay không. Các tổn thương xuất huyết không mất màu ; tổn thương viêm và mạch máu thì mất màu. Phương pháp ấn kính cũng có thể giúp chẩn đoán các tổn thương da trong bệnh sarcoidois, mà khi thực hiện sẽ có dấu hiệu thạch táo.

Thử nghiệmTzanck

Với thử nghiệm Tzanck, phần đế và hai bên của phỏng nước được cạo bằng dao, và vật liệu được nhuộm Wright hoặc Giemsa. Các tế bào khổng lồ đa nhân là một dấu hiệu của nhiễm herpes simplex hoặc herpes zoster.

Thử nghiệmTzanck

Thử nghiệmTzanck

Mọi thông tin thắc mắc và xin liên hệ: 0766.51.6161